Phương pháp tính
chỉ số giá cổ phiếu Năm
1999, UBCKNN có một đề tài nghiên cứu khoa học
cấp bộ mang tên: Cơ sở khoa học và thực
tiễn xây dựng chỉ số giá chứng khoán và
một số gợi ý cho Việt Mục
tiêu cơ bản của việc xây dựng chỉ số
giá nói chung là xây dựng hệ thống chỉ tiêu
phản ánh sự biến động của giá theo
thời gian. Chỉ số giá cổ phiếu cũng
vậy nó là chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi
của giá cổ phiếu theo thời gian. Ý
tưởng xuyên suốt trong quá trình xây dựng chỉ
số giá là phải cố định phần lượng,
loại bỏ mọi yếu tố ảnh hưởng
về giá trị để khảo sát sự thay đổi
của riêng giá. Có như vậy chỉ số giá mới
phản ánh đúng sự biến động về giá.
Mọi công thức, phương pháp không thực hiện
được ý tưởng này đều sai với lý
luận và chắc chắn chỉ số giá không phản
ánh đúng sự biến động của giá. Để
thực hiện được mục tiêu và ý tưởng
trên, có 3 vấn đề cần giải quyết trong quá
trình xây dựng chỉ số giá cổ phiếu, đó là: -
Chọn phương pháp -
Chọn rổ đại
diện -
Tìm biện pháp trừ khử
các yếu tố về giá trị để đảm
bảo chỉ số giá chỉ phản ánh sự biến
động của riêng giá. 1-
Phương pháp tính Hiện
nay các nước trên thế giới dùng 5 phương pháp
để tính chỉ số giá cổ phiếu, đó là: Phương
pháp Passcher:
Người
ta dùng công thức sau để tính.
å
qt
pt
I p =
-------------
å
qt
po Trong đó:
I
p :
Là chỉ số giá Passcher
p t
:
Là giá thời kỳ t
p o
:
Là giá thời kỳ gốc
qt
:
Là khối lượng (quyền số) thời điểm
tính toán ( t ) hoặc cơ cấu của khối lượng thời điểm tính
toán.
i Là cổ
phiếu i tham gia tính chỉ số giá
n là số lượng
cổ phiếu đưa vào tính chỉ số Chỉ
số giá bình quân Passcher là chỉ số giá bình quân
gia quyền giá trị lấy quyền số là quyền
số thời kỳ tính toán, vì vậy kết quả tính
sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số (cơ
cấu chứng khoán niêm yết) thời tính toán. Các
chỉ số KOSPI (Hàn quốc); S&P500(Mỹ); FT-SE 100 (Anh)
; TOPIX (Nhật) ; CAC (Pháp); TSE (Đài loan); Hangseng (Hồng công);
các chỉ số của Thuỵ Sỹ,..
và VnIndex của Việt Phương
pháp Laspeyres.
Chỉ số giá bình
quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá
trị, lấy quyền
số là số cổ phiếu niêm yết thời kỳ
gốc. Như vậy
kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu
quyền số thời kỳ gốc:
å
qo
pt
I l
= -------------
å
qo
po Trong đó: I L : Là chỉ số giá bình
quân Laspeyres
pt : Là giá thời kỳ
báo cáo
p o
:
Là giá thời kỳ gốc
qo
: Là khối lượng
(quyền số) thời kỳ gốc hoặc cơ
cấu của khối lượng c (số
lượng cổ phiếu niêm yết) thời kỳ
gốc i
Là cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá
n là số lượng
cổ phiếu đưa vào tính chỉ số Có
ít nước áp dụng phương pháp này, đó là
chỉ số FAZ, DAX
của Đức Chỉ
số giá bình quân Fisher
Chỉ số giá bình quân
Fisher là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ
số giá Passcher và chỉ số giá Laspayres:
Phương pháp này trung hoà được yếu điểm
của hai phương pháp trên, tức là giá trị
chỉ số tính toán ra phụ thuộc vào quyền
số của cả 2 thời kỳ: Kỳ gốc và
kỳ tính toán
I F
= Ö
IP x I L
Trong đó: I
F :
Là chỉ số giá
Fisher
IP
: Là
chỉ số giá Passche
I L :
Là chỉ số giá bình
quân Laspeyres
Về mặt lý luận có phương pháp này, nhưng
trong thống kê chúng tôi không thấy nó áp dụng ở
bất kỳ một quốc giá nào.
Phương pháp số bình quân
giản đơn: Ngoài các phương pháp trên, phương
pháp tính giá bình quân giản đơn cũng thường
được áp dụng. Công thức đơn giản là
lấy tổng thị giá của chứng khoán chia cho
số chứng khoán tham gia tính toán:
å
pi
Ip =
-------------
n Trong
đó: I p là giá bình quân;
Pi là giá
Chứng khoán i;
n là số lượng chứng khoán đưa vào tính
toán. Các
chỉ số họ Dow Jone của Mỹ; Nikkei 225 của
Nhật; MBI của Ý áp dụng phương pháp này. Phương
pháp này sẽ tốt khi mức giá của các cổ
phiếu tham gia niêm yết khá đồng đều, hay
độ lệch chuẩn (s
) của nó thấp. Phương
pháp bình quân nhân giản đơn
|
||||||||||||||||||||||||||||
|
Cổ
phiếu |
Giá
ngày giao dịch 1 |
Giá
ngày giao dịch 2 |
Giá
ngày giao dịch 3 |
|
A
B
C |
17
13
15 |
19
13
16 |
19
13
8 |
|
Tổng
giá |
45 |
48 |
30 |
DJA
ngày 1 là 45/3 =15 (ngàn đồng, hay điểm)
DJA
ngày 2 là 48/3 = 16 (ngàn đồng, hay điểm), tăng 1
điểm hay 6.7%
Ngày
thứ 3 cổ phiếu C tách làm hai và giá coi như không
có gì thay đổi (cổ phiếu C giảm còn 8 không
coi là giảm giá, mà chỉ vì cổ phiếu tách đôi).
Về
nguyên tắc nếu giá không có gì thay đổi, thì
chỉ số vẫn giữ nguyên. Ta không thể lấy
tổng mới chia cho 3: 30/3=10 để kết luận
chỉ số giá đã giảm 5 ngàn (điểm)
được. Vì thực chất giá không hề thay đổi
. Bởi vậy chỉ số giá mới tính ra phải
bằng 15 như ngày 2. Đây là cốt lõi của kỹ
thuật tính toán lại hệ số chia. Kỹ thuật
hết sức đơn giản: áp dụng quy tắc tam
suất mà chúng ta đã học từ lớp 4
Cụ
thể là:
48 == ====> Hệ số chia là 3 (Do)
30 =======> Hệ số chia là D1
Từ
đây suy ra D1 =(30 x 3)/48 = 1.875 và
DJA ngày thứ 3 là 30/1.875 = 16 không có gì thay đổi.
Chỉ số này phản ánh đúng động thái
của giá (không đổi). Trong thực tế giá thường
có thay đổi nên chỉ số sẽ có giao động.
Nhưng khi tính lại hệ số chia người ta luôn
giả định giá không đổi. Tức là hệ
số chia của ngày giao dịch được xác định
trước khi xẩy ra giao dịch.
Chúng ta cũng có thể tham khảo thêm ví dụ sau
về phương pháp tính chỉ số giá gia quyền giá
trị Passcher mà nước
ta đang áp dụng, công thức tính như sau:
å
qt
pt
å
qt
pt
I p =
-------------
=> --------------
å
qt
po
Dt
|
Chứng
khoán |
Khối
lượng niêm yết |
Giá
đóng cửa 21/7 |
Giá
đóng cửa ngày 31/7 |
Giá đóng cửa ngày 2/8 |
|
A B C |
1000 2000 5000 |
10 15 |
12 16 18 |
13 17 20 |
- Chỉ số giá ngày giao dịch đầu tiên là
100% (điểm)
=
100x(1000x10+2000x15)/(1000x10+2000x15) = SQoPo/Do
=100
Phải
nhân với 100 bởi vì chúng ta quy ước ngày đầu
là 100 điểm
Do
= 1000x10+2000x15 = 40000
-
Chỉ số giá ngày 31/7 là 110
% (điểm) tăng 10% hay 10 điểm
=
100x (1000x12 + 2000x16)/ (1000x10+2000x15) = SP1
Q1/D1 =110
Trong trường hợp này Do =D1 = 40000 và ngày
này cổ phiếu C chưa được tham gia vào
việc tính chỉ số giá (vì mới có giá ban đầu
chưa có thay đổi). Do đó chỉ số giá
của ngày 31/7 chỉ là chỉ số giả tổng
hợp của 2 cổ phiếu A và B mà thôi.
-
Chỉ số giá ngày 2/8 là
120,67 điểm tăng
10,67 điểm, phương pháp tính như sau:
=
100x(13x1000+17x2000+20x5000)/ D2
= SP2Q2/D2
= 120,67 tăng 10,67 điểm
Tính
D2 như sau:
(
12x1000 + 16x2000) ==> Hệ số chia là (10x1000+ 15x2000)
(
12x1000 + 16x2000 +18x5000) ==> Hệ số chia là D2
Từ
đó:
(10x1000+ 15x2000)x( 12x1000 + 16x2000 +18x5000)
D2
= --------------------------------------------------------------------=
121818,1818
( 12x1000 + 16x2000)
Hệ
số chia đã thay đổi
từ 40 000 (Do và D1) thành
121 818,1818 (D2)
Trong
2 phiên giao dịch ngày 21 và 31 hệ số chia không có gì
thay đổi và đều chia cho gốc, vì vậy
chỉ số thực sự là tính theo % so với gốc và
vì thế ở hai ngày này
chúng ta có thể gọi là điểm hay % cũng đúng.
Đến phiên giao dịch 2/8 thì điều này không
đúng nữa, bởi vì ta đã đổi hệ số
chia và vì vậy kết quả tính toán lần này chỉ
có thể gọi là điểm
(Trung
tâm NCKH &ĐTCK)
Nguồn: Website
UBCK Nhà nước
Giá tham chiếu của
cổ phiếu trong những ngày đặc biệt
Trong quá trình theo dõi và tham gia thị trường,
thỉnh thoảng người đầu tư nhận
thấy Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh (TTGDCK Tp. HCM) không lấy giá đóng cửa
của một cổ phiếu nào đó trong phiên giao
dịch trước đó
làm giá tham chiếu cho cổ phiếu này trong ngày giao
dịch tiếp theo như thường lệ. Đó là
ở trường hợp ở những phiên giao dịch
người đầu tư giao dịch không được
nhận cổ tức bằng tiền, không được
nhận thưởng bằng tiền, ngày giao dịch không
được hưởng quyền mua cổ phiếu
mới trong đợt phát hành thêm cổ phiếu để
tăng vốn hay trong ngày giao dịch không được
hưởng phần phát thưởng bằng cổ
phiếu, ngày không được hưởng cổ
tức bằng cổ phiếu hoặc tổ hợp nào
đó của các yếu tố trên.
Điểm
qua một số thông tin liên quan, chúng ta thấy việc
phát hành thêm cổ phiếu để huy động
thêm vốn phát triển sản xuất của Công ty
cổ phần (CtyCP) giấy Hải phòng (Haphaco). Công ty này
đã phát hành tăng vốn lên gấp đôi, từ
hơn 10 tỷ lên hơn 20 tỷ để xây
dựng một dây chuyền sản xuất giấy Craft. Và
cứ mỗi cổ phiếu sở hữu nhận
được một quyền mua một cổ phiếu
trong đợt phát hành mới. Tại đây đã
xuất hiện nhu cầu về định giá chứng
khoán phái sinh là quyền mua cổ phiếu và làm cơ
sở để định giá bán cổ phiếu cho người
có quyền. Trong thời gian đó, giá cổ phiếu
Haphaco đang ở mức cao trên 60-70 ngàn đồng/cổ
phiếu và thị trường đang có xu hướng
suy giảm. Công ty Haphaco đã xác định giá bán cho người
có quyền là 50, sau đó là 40 và cuối cùng là 32 ngàn
đồng/cổ phiếu trong đợt phát hành mới
khi giá cổ phiếu này trên thị trường giảm
xuống trên dưới 50 ngàn đồng. Và trên thực
tế đã xuất hiện ngày giao dịch không hưởng
quyền mua cổ phiếu này
và TTGDCK Tp. HCM đã điều chỉnh giá tham chiếu.
Ngoài ra, đối với những công ty niêm yết (CtyNY)
khác, đã có một số công ty
phát hành thêm cổ phiếu để thưởng
hay cổ phiếu dùng để trả cổ tức như
CtyCP Xuất nhập khẩu Bình Thạnh, CtyCP Giao nhận
kho vận ngoại thương, CtyCP nước giải khát
Sài gòn, CtyCP cáp và vật liệu viễn thông…Vì vậy,
việc định giá tham chiếu của cổ phiếu
trong ngày giao dịch không có thưởng, không hưởng
cổ tức bằng cổ phiếu cũng đã
được TTGDCK Tp. HCM tính toán và thông báo...
Ví dụ, như Công ty Haphaco đã phát cổ
tức năm 2004 đợt 1 là 12% tương
đương với 1200đ/1 cổ phần và công
bố phát cổ tức đợt 2 năm 2004 bằng
cổ phiếu với tỷ lệ 100 cổ phiếu cũ
được nhận 12 cổ phiếu mới ( tất
nhiên là sau khi được phép của Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước (UBCKNN)). CtyCP Xuất nhập khẩu Khánh
Hội (KHA) cũng đã được phép của UBCKNN
phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn dưới
hình thức thưởng cổ phiếu, tăng vốn
điều lệ từ 20,9 tỷ lên gấp rưỡi,
tức là phát hành thêm thêm 1.045.000 cổ phiếu với
trị giá 10,450 tỷ đồng. Ngày cuối cùng để
cổ đông đăng ký quyền mua cổ phiếu này
là ngày
Công ty Gemadept đã
trả cổ tức đợt 1 năm 2004 là 12% và công
bố sẽ trả cổ tức lần hai của năm
này bằng cổ phiếu (họ cũng đã được
phép của UBCKNN) với tỷ lệ 20:1. Có nghĩa là,
cổ đông cứ có 20 cổ phiếu cũ (kể
cả cổ phiếu trả chậm) sẽ được
phát thêm 1 cổ phiếu từ nguồn vốn chia cổ
tức năm 2004. Công ty Haphaco đã được phép
của UBCKNN chia cổ tức đợt hai bằng cổ
phiếu (1200đ/cổ phiếu), với giá được
tính theo mệnh giá là10.000đ/cổ phiếu, tức là
cổ đông có 100
cổ phiếu sẽ được nhận thêm 12 cổ
phiếu, đồng thời thưởng cổ phiếu
cho cổ đông để tăng vốn với tỷ
lệ 2:1, tức là có hai cổ phiếu cũ được
nhận thêm 1 cổ phiếu mới. Ngày giao dịch không
hưởng quyền là ngày
Để lý giải về giá tham chiếu
của cổ phiếu trong những ngày đặc biệt
trên, chúng tôi xin giới thiệu một số kết
quả của công trình nghiên cứu liên quan đến
vấn đề này[1][1].
1)
Giá tham chiếu (Ptc) của cổ phiếu
trong ngày giao dịch không hưởng cổ tức
được tính theo công thức:
Ptc = Giá
đóng cửa phiên giao dịch trước đó – giá
trị cổ tức
Giá tham
chiếu của cổ
phiếu trong ngày giao dịch không hưởng cổ
tức đúng bằng giá đóng cửa của cổ
phiếu này trong phiên trước đó trừ đi giá
trị cổ tức.
2)
Giá tham chiếu của cổ phiếu (Ptc) trong ngày
giao dịch không hưởng phần chia lãi bằng
tiền
Ptc = Giá đóng
cửa phiên giao dịch trước đó – giá trị
tiền thưởng
Giá tham
chiếu của cổ
phiếu trong ngày giao dịch không hưởng phần thưởng
bằng tiền đúng
bằng giá đóng cửa của cổ phiếu này trong
phiên trước đó trừ đi giá trị tiền thưởng.
3)
Giá tham chiếu của cổ phiếu trong trường
hợp phát hành thêm cổ phiếu để tăng
vốn
Trong trường
hợp này giá tham
chiếu của cổ phiếu ngày không hưởng
quyền mua cổ phiếu mới (Ptc)
được tính theo công thức:
PR
t-1 + (I x PR )
Ptc =
------------------------
1+ I
Trong đó : Ptc :
là giá tham chiếu cổ phiếu trong ngày giao
dịch không hưởng
quyền mua cổ phiếu trong đợt phát hành
mới để tăng vốn, đây là
giá cần xác định
PRt-1 :
là giá chứng khoán phiên
trước phiên giao
dịch không hưởng quyền.
I : là
tỷ lệ vốn tăng
PR :
là giá cổ phiếu sẽ bán cho người
nắm giữ quyền
mua cổ phiếu trong đợt phát hành mới.
Ví dụ:
Giả sử ta muốn tính giá tham chiếu của cổ
phiếu Haphaco vào ngày không hưởng quyền mua cổ
phiếu mới trong đợt phát hành thêm cổ
phiếu lần đầu để huy động vốn
đầu tư xây dựng Nhà máy giấy Craft. Thông tin chúng
ta có được như sau: Tổng vốn huy động
mới là 20 tỷ đồng (tổng
vốn Haphaco trước lúc phát hành quyền mua cổ
phiếu là 10 tỷ đồng). Tức là mỗi cổ
phiếu cũ được mua thêm 2 cổ phiếu
mới. Giá tham chiếu của cổ phiếu này
vào phiên trước phiên giao dịch không hưởng
quyền là 50.000đồng/cổ phiếu (PRt-1).
Tỷ lệ vốn tăng là gấp 2 lần vốn
hiện có ( I=2). Giá cổ phiếu sẽ bán cho cổ
đông ghi trong quyền là 32.000đồng/cổ phiếu
(PR).
5 0000 + 2 x 32000
Ptc =
----------------------------- = 38
000 đồng
1+ 2
Như vậy, giá tham chiếu
cổ phiếu trong phiên giao dịch không hưởng
quyền là 38.000 đồng. Trong khi đó giá bán theo
quyền của cổ phiếu (hay giá ấn định) là
32. 000 đồng.
Trong trường
hợp này giá của quyền mua đối với mỗi
cổ phiếu là :
38.000
đồng - 32.000 đồng = 6.000 đồng.
Trong thực tế, khi có một cổ phiếu ta có hai
quyền mua cổ phiếu mới và tổng giá trị
quyền cho việc sở hữu một cổ phiếu cũ
là 12.000 đồng
Đây là thông
tin hết sức quan trọng trong quá trình giao dịch
quyền mua cổ phiếu này.
Bài
toán này được gặp khá thường xuyên trong quá
trình vận hành của TTCK. Bởi vì, việc phát hành thêm
cổ phiếu để huy động vốn đầu
tư phát triển sản xuất là mục đích quan
trọng nhất của TTCK và các doanh nghiệp sẽ tranh
thủ tối đa nguồn vốn huy động bằng
phương pháp này.
4) Giá tham chiếu của cổ phiếu trong ngày giao
dịch không hưởng phần chia lãi, hay phát thưởng
bằng cổ phiếu
Thực tiễn
TTCK Việt nam hiện nay đã cho thấy, rất
nhiều doanh nghiệp niêm yết muốn thực hiện
việc chia cổ tức, chia lãi bằng cổ phiếu.
Thực chất đây là đợt phát hành mới và bán
cho cổ đông hiện hữu. Quyền “mua” cổ
phiếu tiềm ẩn trong hoạt động này và coi như
người có quyền dùng luôn tiền thưởng hay
cổ tức để mua cổ phiếu mới. Thực
chất, hoạt động chia lãi, chia cổ tức và
hoạt động phát hành thêm cổ phiếu cùng
xẩy ra cùng một lúc.
Ví dụ:
CtyCP Xuất nhập khẩu Khánh Hội (KHA) đã
được phép của UBCKNN phát hành thêm cổ
phiếu để tăng vốn dưới hình thức
thưởng cổ phiếu, tăng vốn điều
lệ từ 20,9 tỷ đồng lên gấp rưỡi,
tức là phát hành thêm 1.045.000 cổ phiếu với
trị giá 10,450 tỷ đồng. Ngày cuối cùng để
cổ đông đăng ký quyền mua cổ phiếu là
ngày 15/10/2004 (Thứ 6). Ngày giao dịch không hưởng
quyền là ngày Thứ 4 ngày 13/10. Câu hỏi ở đây
là, giá tham chiếu của cổ phiếu này tại ngày
13/10 này là bao nhiêu? Giá trị của quyền bằng bao
nhiêu? Biết rằng giá cổ phiếu ngày 12/10 của
KHA là 25.500đồng.
Trong trường hợp này, cùng một lúc có 2
sự kiện xẩy ra: KHA phát thưởng và phát hành thêm
cổ phiếu để tăng vốn. Mức thưởng
là 5.000đồng /cổ phiếu; Phát hành để tăng
thêm 50% vốn và giá tính cho người có quyền (cổ
đông hiện hữu) với giá 10.000đồng /cổ
phiếu. Chúng ta dùng công thức sau:
PR t-1 + (I x PR )-TTH
Ptc = ------------------------------
1+ I
PRt-1 : là
giá chứng khoán phiên trước phiên không hưởng
quyền nhận thưởng bằng cổ phiếu.
(25.500đ)
I : là
tỷ lệ vốn tăng: 50%=0,5
PR :
là giá cổ phiếu sẽ tính toán
cho người có
quyền nhận thưởng
bằng tiền (10.000đ)
TTH : Giá trị tiền thưởng
bằng cổ phiếu (5.000 đồng)
Thay số vào ta
có:
25.500 + (0.5x 10.000 ) –5.000
P tc (ngày 13/10) = ------------------------------------- =
17.000 đồng
1+ 0.5
Tức là, nếu ngày 13/10 giá cổ
phiếu KHA hình thành là 17.000 đồng/cổ phiếu thì
được coi là không có biến động giá, không
có tác động đến Vn-Index. Việc giảm giá
từ 25.500 đồng /cổ phiếu xuống 17.000 đồng/cổ
phiếu chỉ là sự biến động về giá
trị, chứ không phải là biến động về
giá.
Giá của quyền ở đây là 17.000đồng -
10.000đồng = 7.000đồng
5) Giá tham chiếu của cổ phiếu trong ngày giao
dịch không hưởng phần chia lãi và đồng
thời chia cổ tức bằng cổ phiếu
Ví
dụ :
Công ty Haphaco đã được phép của UBCKNN
chia cổ tức đợt hai bằng cổ phiếu
(1.200đ/cổ phiếu), với giá được tính
theo mệnh giá là10.000đồng/cổ phiếu, tức là
cổ đông có 100 cổ phiếu sẽ được
nhận thêm 12 cổ phiếu, đồng thời thưởng
cổ phiếu cho cổ đông để tăng vốn
với tỷ lệ 2 :1, tức là có hai cổ phiếu cũ
được nhận thêm 1 cổ phiếu mới. Ngày
giao dịch không hưởng quyền là ngày 6/12/04. Chúng ta
hãy tính giá tham chiếu của cổ phiếu này vào ngày
6/12/04 theo công thức :
Công thức của chúng
ta :
PR t-1 + (I x PR )-TTH-
Div
Ptc (ngày 6/12) =
-------------------------------------
1+ I
Trong đó : Ptc (ngày 6/12) : là
giá tham chiếu cổ phiếu trong ngày giao dich không hưởng
quyền nhận thưởng và nhận cổ tức
bằng cổ phiếu
PRt-1 :
là giá chứng khoán trước khi phát hành
chứng quyền.
(Giá vào ngày 3/12/2004 là 39.300 đồng)
I : là tỷ
lệ vốn tăng: 50%+12%= 62%= 0,62
PR : là giá
cổ phiếu sẽ bán cho người
có quyền
hưởng cổ tức và tiền thưởng
bằng cổ phiếu (=10.000 đồng)
TTH: giá trị
tiền thưởng (=5.000 đồng)
Div: là giá trị
cổ tức (= 1.200 đồng)
39.300 + (0.62x 10.000 ) –5.000-1.200
P tc ngày 6/12 =
-------------------- -------- --------------
=
24.259 đồng
1+ 0.62
Trong trường
hợp này giá trị quyền
nhận cổ tức và tiền thưởng bằng
cổ phiếu là:
24.259- 1.0000 = 14.259 đồng.
Tuy nhiên, trong thực tế TTGDCK Tp.
HCM đã quy định giá tham chiếu của Haphaco ở
phiên giao dịch đầu tiên không hưởng quyền
(ngày
Đây là thông tin quan trọng đối
với người đầu tư để họ có cơ
sở để giao dịch cổ phiếu trong những
phiên trước ngày 6/12 và
ngay ngày 6/12
Việc giảm giá của Haphaco
từ 39.300 đồng vào phiên giao dịch 930 xuống
24.300 đồng vào phiên thứ 931 không coi là giảm giá
và không tính vào Vn-Index, vì đây là khoản giảm giá
trị của cổ phiếu chứ không phải giảm
giá.
6) Tổng quát hóa
Nếu tất cả các yếu tố kể trên cùng
xẩy ra một lúc thì ta tính giá tham chiếu ra sao. Ví
dụ cùng một lúc có các sự kiện như sau
xảy ra :
-
Công ty có phát hành
thêm chứng quyền để
tăng vốn
-
Công ty có một
phần tiền thưởng bằng tiền mặt.
-
Công ty có chia
một phần cổ tức bằng tiền mặt
-
Công ty có một
phần tiền thưởng bằng cổ phiếu.
-
Công ty có chia
một phần cổ tức bằng cổ phiếu.
Đồng
thời giá cổ phiếu tính cho chứng quyền,
quyền nhận thưởng bằng cổ phiếu,
quyền nhận cổ tức bằng cổ phiếu khác
nhau. Câu hỏi đặt ra là
vào ngày giao dịch không hưởng các quyền trên
giá tham chiếu của cổ phiếu tính ra sao? Thực
tế đây là bài toán tổng hợp của tất
cả các bài toán trên. Chúng ta hãy dùng công thức tổng
quát sau:
PR
t-1 + (I1 x Pr1 ) + (I2 x Pr2
) + (I3 x Pr3 ) –TTHcp- Divcp- TTHt
-Divt
Ptc =
----------------------------------------------------------------------------------------------
1+
I1 + I2 + I3
Trong đó :
Ptc :
Giá tham chiếu trong ngày không hưởng các quyền
trên
I1 :
Tỷ lệ vốn tăng theo phát hành quyền mua cổ
phiếu
I2
: Tỷ lệ vốn
tăng do phát thưởng bằng cổ phiếu
I3
: Tỷ lệ vốn tăng do phát cổ tức
bằng cổ
phiếu
TTHcp :
Giá trị tiền thưởng bằng cổ
phiếu
Divcp :
Giá trị cổ tức bằng cổ phiếu
TTHt
: Giá
trị tiền thưởng bằng tiền
Divt
: Giá trị cổ
tức bằng tiền
Pr1
: Giá cổ phiếu bán cho người có quyền
mua cổ phiếu
Pr2
:
Giá cổ phiếu tính cho người được thưởng
bằng cổ phiếu
Pr2 :
Giá cổ phiếu tính cho người được
nhận cổ tức bằng cổ phiếu
Trong thực tế, chúng ta có thể dùng công thức
tổng quát này để tính toán cho tất cả các trường
hợp. Đối với những nhân tố không xẩy
ra ta đánh số 0. Đây là kết quả nghiên cứu
có khả năng ứng dụng thực tiễn khá cao,
mong các nhà đầu tư tham gia góp ý, bàn luận thêm.
Việc điều chỉnh giá tham chiếu theo những yếu tố kể trên là những biến động về giá trị cổ phiếu (phải được loại bỏ trong quá trình tính toán Vn-Index), không ảnh hưởng đến chỉ số giá Vn-Index. Trong một số trường hợp, một số người không hiểu về phương pháp tính Vn-Index nên đã giải thích việc giảm Vn-Index là do ngày phát cổ tức, ngày phát hành thêm cổ phiếu, ngày phát thưởng bằng tiền, bằng cổ phiếu... Đây chỉ là sai lầm trong cách nhận biết và liên quan đến một số kiến thức cơ bản về chứng khoán và TTCK./.
(Trung
tâm NCKH &ĐTCK)
Nguồn: Website UBCK Nhà nước
Tìm
hiểu về Hệ thống đăng ký, lưu ký, bù
trừ và thanh toán các giao dịch chứng khoán
LTS:
Ngày 27/7/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành
Quyết định số 189/2005/QĐ-TTg về việc thành
lập Trung tâm Lưu Ký Chứng khoán (TTLKCK), có nhiệm
vụ thực hiện đăng ký, lưu ký, bù trừ,
thanh toán chứng khoán và cung cấp các dịch vụ
hỗ trợ việc giao dịch, mua bán chứng khoán.
Để chuẩn bị cho việc khai trương và
đưa TTLKCK đi vào
hoạt động trong quý 2/2006, mọi công tác chuẩn
bị đang được khẩn trương thực
hiện. Tạp chí Chứng khoán xin giới thới
thiệu với độc giả những kiến thức
cơ bản về nghiệp vụ hoạt động
của TTLKCK.
Nói đến đăng ký chứng khoán, lưu ký
chứng khoán, bù trừ và thanh toán các giao dịch
chứng khoán là nói đến dịch vụ hỗ
trợ giao dịch chứng khoán trên các thị trường
chứng khoán (TTCK) bao gồm cả các thị trường
chính thức và thị trường phi tập trung. Người
đầu tư có thể đặt câu hỏi tại
sao lại phải cần đến dịch vụ
đăng ký, lưu ký chứng khoán, bù trừ và thanh toán
trong khi họ có thể tự bảo quản lấy tài
sản của mình, tìm gặp nhau để thực
hiện giao dịch mua bán chứng khoán, sau đó tự
thanh toán chứng khoán và tiền với nhau?
Câu trả lời ở đây là “hình thức
giao dịch chứng khoán” đã quyết định
đến vấn đề này. Việc giao dịch và
thanh toán như trên chỉ thực hiện được
đối với các giao dịch tự phát, chủ
yếu là trực tiếp giữa một bên mua với
một bên bán, tính an toàn trong giao dịch thấp, luôn
tiềm ẩn nguy cơ không thực hiện nghĩa
vụ giao dịch của hoặc bên mua, hoặc bên bán,
đặc biệt là khi giá cả thị trường có
nhiều biến động. Trong khi đó, giao dịch
chứng khoán tại các sở giao dịch chứng khoán (thị
trường tập trung), thị trường giao dịch
điện tử (thị trường phi tập trung),
thị trường các công cụ phái sinh… đều là
hình thức giao dịch có tổ chức giữa nhiều
bên mua bán với nhau. Để luôn đảm bảo nghĩa
vụ thực hiện hợp đồng cũng như
sự an toàn cho tất cả các bên tham gia mua bán, giảm
thiểu chi phí giao dịch, hình thức giao dịch có
tổ chức, đòi hỏi việc thanh toán tiền và
chuyển giao chứng khoán cũng phải được
thực hiện một cách có tổ chức. Khi giao
dịch chứng khoán đã được xác nhận
thực hiện, việc chuyển giao chứng khoán và thanh
toán tiền sẽ được thực hiện bằng
hình thức chuyển khoản trên các tài khoản
chứng khoán và tiền thông qua các bút toán ghi sổ, thay
vì chuyển giao vật chất trực tiếp như trong
hình thức giao dịch tự phát. Để làm được
điều này, chứng khoán niêm yết hay đăng ký
giao dịch trên TTCK cần phải được lưu
giữ tập trung và bất động hóa tại một
nơi. Chính đòi hỏi này đã dẫn đến
sự ra đời của loại hình dịch vụ là
đăng ký, lưu ký chứng khoán, bù trừ và thanh toán
các giao dịch chứng khoán để hỗ trợ cho
việc thực hiện và hoàn tất các giao dịch
chứng khoán trên các thị trường giao dịch
chứng khoán có tổ chức. Sự xuất hiện
của các loại hình dịch vụ này cũng đã kéo
theo sự ra đời của các tổ chức cung
ứng các dịch vụ đó và hệ thống văn
bản pháp quy để quản lý các tổ chức cung
ứng dịch vụ đăng ký, lưu ký chứng khoán,
bù trừ và thanh toán các giao dịch chứng khoán.
Các tổ chức cung ứng dịch vụ đăng
ký, lưu ký chứng khoán, bù trừ và thanh toán các giao
dịch chứng khoán thường là các ngân hàng lưu ký
(ngân hàng thương mại được phép hoạt
động lưu ký chứng khoán), các công ty chứng khoán,
được gọi chung là các tổ chức lưu ký.
Các tổ chức thanh toán tiền cho các giao dịch
chứng khoán là các ngân hàng thanh toán. Hoạt động
của thị trường giao dịch có tổ chức
cần một nơi để lưu giữ và quản lý
tập trung các chứng khoán, đồng thời sự hình
thành nhiều tổ chức lưu ký cũng đòi
hỏi phải có một tổ chức đóng vai trò là
tổ chức lưu ký trung tâm, làm trung gian kết nối
các tổ chức lưu ký này với nhau, tạo cơ
sở cho việc thực hiện thanh toán bằng hình
thức ghi sổ. Những đòi hỏi đó đã
dẫn đến sự hình thành của TTLKCK, các tổ chức lưu ký còn lại
trở thành thành viên của trung tâm lưu ký, hay còn
gọi là các thành viên lưu ký. Đối với các ngân
hàng thanh toán cũng vậy, cần phải có một ngân
hàng đóng vai trò là ngân hàng thanh toán trung tâm, thực
hiện thanh toán tiền cho tất cả các giao dịch
chứng khoán, thường là Ngân hàng Trung ương (NHTW)
hay Ngân hàng chỉ định thanh toán.
Hệ
thống cở sở vật chất kỹ thuật, công
nghệ thông tin của trung tâm lưu ký, của các thành
viên lưu ký và của các ngân hàng thanh toán, NHTW cùng
với hệ thống pháp lý về lưu ký được
gọi chung là hệ thống đăng ký, lưu ký
chứng khoán, bù trừ và thanh toán các giao dịch
chứng khoán, hay còn gọi tắt là hệ thống lưu
ký chứng khoán. Hệ thống lưu ký chứng khoán
đảm bảo việc đăng ký, lưu ký chứng
khoán được hoàn tất trước khi chứng khoán
được đưa vào giao dịch và sau khi giao
dịch kết thúc các bên tham gia giao dịch sẽ lần
lượt nhận được tiền và chứng khoán
thông qua việc bù trừ và thanh toán chứng khoán và
tiền do hệ thống thực hiện. Như vậy, cùng
với sự hình thành của TTCK có tổ chức, hệ
thống lưu ký chứng khoán đã trở thành một
thành tố không thể thiếu, cấu thành nên hạ
tầng của TTCK.
Để
hiểu thêm về các dịch vụ do hệ thống
đăng ký chứng khoán, lưu ký chứng khoán, bù
trừ và thanh toán các giao dịch chứng khoán thực
hiện, phần dưới đây sẽ đề
cập đến từng dịch vụ cụ thể:
1.
Đăng ký chứng khoán
Phần trên đã đề cập, để
chứng khoán niêm yết hay đăng ký giao dịch
được giao dịch trên TTCK, chúng cần phải
được lưu ký tập trung tại một nơi,
nơi đó chính là TTLKCK. Tuy nhiên, trước khi
chứng khoán được đưa vào lưu ký
tập trung tại TTLKCK, chúng cần phải được
đăng ký đầy đủ thông tin để TTLKCK
có thể nhận lưu ký. Các thông tin đăng ký bao
gồm:
-
Đăng
ký thông tin về chứng khoán chẳng hạn như tên
chứng khoán, loại
chứng khoán, mẫu mã chứng khoán, số lượng
đang lưu hành....
-
Đăng
ký thông tin về người sở hữu chứng khoán
chẳng hạn như tên, địa chỉ, điện
thoại liên lạc của người sở hữu,
số lượng sở hữu...
Việc thực hiện đăng ký thông tin thường
do tổ chức phát hành tiến hành hoặc do một
tổ chức được tổ chức phát hành
ủy quyền tiến hành. Như vậy, đối
với các chứng khoán niêm yết hoặc đăng ký
giao dịch, TTLKCK trở thành nơi duy nhất thực
hiện dịch vụ làm đại lý chuyển nhượng,
cụ thể là:
-
Thực
hiện quản lý sổ đăng ký người sở
hữu chứng khoán cho các tổ chức niêm yết,
tổ chức đăng ký giao dịch, ghi nhận
quyền sở hữu và thông tin thay đổi quyền
sở hữu của người sở hữu chứng khoán.
-
Thực
hiện các quyền liên quan đến chứng khoán lưu
ký cho người sở hữu chứng khoán bao gồm các
quyền như quyền tham dự đại hội cổ
đông, quyền nhận cổ tức, quyền bỏ
phiếu, quyền nhận trái tức và vốn gốc,
quyền mua, quyền chuyển đổi, tách hoặc
gộp cổ phiếu...
2. Lưu ký chứng khoán
Lưu
ký chứng khoán thực chất là việc lưu giữ,
bảo quản chứng khoán của khách hàng cả
chứng khoán vật chất và chứng khoán ghi sổ.
Đồng thời đối với các chứng chỉ
vật chất, TTLK còn phải thực hiện cả
việc quản lý nhập, xuất và bảo quản an toàn
chứng chỉ chứng khoán tại kho chứng chỉ
chứng khoán. Để theo dõi và quản lý luồng ra vào
chứng khoán của khách hàng ký gửi tại TTLKCK (ký
gửi thông qua các tổ chức lưu ký thành viên), TTLKCK
phải thực hiện mở tài khoản lưu ký
chứng khoán cho các tổ chức lưu ký thành viên và
cho khách hàng, tương tự như việc ngân hàng thương
mại (NHTM) mở tài khoản vãng lai để quản lý
luồng tiền cho khách hàng của mình.
Chính
vì vậy, lưu ký chứng khoán còn bao gồm cả
việc thực hiện các dịch vụ liên quan đến
mở tài khoản, nhận gửi, rút, chuyển khoản
chứng khoán lưu ký. Ngoài ra, TTLKCK cũng như các
tổ chức lưu ký còn cung ứng bất cứ
dịch vụ nào khác được pháp luật cho phép
liên quan đến tài khoản lưu ký chứng khoán,
chẳng hạn như dịch vụ làm trung gian trong các
giao dịch bảo đảm như cầm cố, giải
tỏa cầm cố chứng khoán.
Cầm
cố chứng khoán là việc các NHTM, tổ chức tín
dụng cho người đầu tư vay tiền để
đầu tư chứng khoán với thế chấp là
chứng khoán do người đầu tư sở hữu.
Vì vậy, đây thực chất là một dạng quan
hệ hợp đồng giữa bên cầm cố (người
đầu tư) và bên nhận cầm cố (ngân hàng), mà
trong quan hệ này các tổ chức lưu ký chỉ đóng
vai trò là trung gian, trên cơ sở bản hợp đồng
cầm cố đó thực hiện chuyển khoản
số chứng khoán cầm cố từ tài khoản
chứng khoán giao dịch vào tài khoản chứng khoán
cầm cố để đảm bảo việc duy trì tài
sản thế chấp cho bên nhận cầm cố. Khi
hợp đồng cầm cố hết hiệu lực
hoặc theo yêu cầu của bên nhận cầm cố,
tổ chức lưu ký sẽ thực hiện giải
tỏa số chứng khoán cầm cố, trả lại
cho người đầu tư (bên cầm cố).
3. Bù trừ chứng
khoán và tiền
Nếu
đăng ký và lưu ký chứng khoán là khâu hỗ
trợ trước giao dịch chứng khoán, thì bù
trừ chứng khoán và tiền là khâu hỗ trợ sau
giao dịch chứng khoán. Sau khi chứng khoán niêm yết
đã được đưa vào đăng ký, lưu ký
tập trung tại TTLKCK, chúng sẽ được phép
giao dịch trên TTCK. Tuy nhiên, sau khi giao dịch trên thị
trường được thực hiện (đã
được xác nhận), thì các bên tham gia giao dịch
cần phải nhận được tài sản của mình:
bên bán nhận được tiền, bên mua nhận
được chứng khoán. Bù trừ chứng khoán và
tiền là khâu tiếp theo sau giao dịch, thực hiện
việc xử lý thông tin về các giao dịch chứng khoán,
tính toán lại nhằm xác định số tiền và
chứng khoán ròng cuối cùng mà các đối tác tham gia
giao dịch phải có nghĩa vụ thanh toán sau khi giao
dịch được thực hiện.
Hoạt
động bù trừ trên TTCK về cơ bản cũng tương
tự như hoạt động bù trừ của các NHTM,
đặc biệt là liên quan đến mảng bù trừ
tiền. Kết quả bù trừ tiền luôn thể
hiện nghĩa vụ thanh toán một chiều đối
với một thành viên lưu ký: hoặc được
nhận tiền, nếu tổng số tiền phải
trả nhỏ hơn tổng số tiền được
nhận; hoặc phải trả tiền nếu tổng
số tiền phải trả lớn hơn tổng số
tiền được nhận.
Điểm
khác nhau so với bù trừ cho giao dịch của các NHTM là
bù trừ cho các giao dịch chứng khoán không chỉ liên
quan đến mảng tiền mà còn liên quan đến
mảng chứng khoán nữa. Việc bù trừ chứng
khoán cũng mang đặc thù riêng là phải được
thực hiện theo từng loại chứng khoán do không
thể bù trừ các loại chứng khoán khác nhau với
nhau. Do đó, đối với cùng một loại
chứng khoán nhất định, kết quả bù trừ
chứng khoán sẽ chỉ ra nghĩa vụ thanh toán
một chiều của từng thành viên lưu ký: hoặc
phải giao loại chứng khoán đó nếu số lượng
chứng khoán khách hàng đặt mua ít hơn số lượng
khách hàng đặt bán, hoặc được nhận
về loại chứng khoán đó nếu số lượng
chứng khoán khách hàng đặt mua nhiều hơn số
lượng khách hàng đặt bán.
Trong hoạt động bù trừ, phương
thức bù trừ cũng là một vấn đề
cần quan tâm. Phương thức bù trừ cho các giao
dịch chứng khoán được quyết định
bởi phương thức giao dịch trên TTCK. Nếu phương
thức giao dịch là đa phương (nhiều bên mua
với nhiều bên bán), điển hình có thể thấy
là đối với các giao dịch khớp lệnh cổ
phiếu, thì phương thức bù trừ chứng khoán và
tiền sẽ là bù trừ đa phương. Nếu phương
thức giao dịch là song phương (một bên mua
với một bên bán), điển hình có thể thấy là
đối với các giao dịch thỏa thuận, thì phương
thức bù trừ cũng sẽ là bù trừ song phương.
4.
Thanh toán chứng khoán và tiền
Thanh
toán chứng khoán và tiền cũng là dịch vụ
hỗ trợ sau giao dịch chứng khoán, là hoạt động
cuối cùng để hoàn tất các giao dịch chứng
khoán, theo đó các bên tham gia giao dịch sẽ thực
hiện nghĩa vụ của mình: bên phải trả
chứng khoán thực hiện giao chứng khoán, bên
phải trả tiền thực hiện việc chuyển
tiền, lần lượt trên cơ sở kết quả
bù trừ chứng khoán và tiền được
đưa ra ở trên.
Để
giảm rủi ro cho các đối tác tham gia giao dịch,
việc thanh toán chứng khoán và tiền luôn phải đảm
bảo nguyên tắc giao chứng khoán đồng thời
với việc thanh toán tiền, hay còn gọi là nguyên
tắc DVP (Delivery versus Payment). Thời hạn của
việc thanh toán được quyết định
bởi chu kỳ thanh toán. Tùy thuộc vào điều
kiện của từng nước mà chu kỳ thanh toán áp
dụng có thể là T+1; T+2 hay T+3, trong đó T được
hiểu là ngày giao dịch (ngày mà giao dịch được
thực hiện) và 1; 2; 3 là số ngày giao dịch (không tính
ngày nghỉ) tiếp theo kể từ ngày T. Theo khuyến
nghị của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS),
của Tổ chức các ủy ban Chứng khoán quốc
tế (IOSCO) cũng như của nhóm G30 (nhóm các quốc
gia có TTCK phát triển), các nước nên áp dụng chu
kỳ thanh toán tối đa là T+3.
Trong
hoạt động thanh toán chứng khoán và tiền, phương
thức thanh toán cũng là mối quan tâm của các bên
tham gia giao dịch. Phương thức thanh toán được
quyết định bởi phương thức bù trừ,
do thanh toán luôn được thực hiện trên cơ
sở của kết quả bù trừ. Chính vì vậy,
nếu phương thức bù trừ là đa phương
thì phương thức thanh toán cũng là thanh toán đa
phương và tương tự, phương thức bù
trừ là song phương thì phương thức thanh toán
cũng sẽ là thanh toán song phương./
(Trung
tâm NCKH &ĐTCK)
Nguồn: Website UBCK Nhà nước